| Ms.Diễm: | ![]() |
0383.048.156 |
| Mr. Đức: | ![]() |
0947.38.40.42 |
Máng cáp điện, hay dân kỹ thuật quen gọi là cable trunking, bản chất là cái hộp kim loại kín đáy có thêm nắp đậy bên trên. Công dụng chính của nó là gom gọn rồi che chắn cho mấy đường dây điện hạ thế, cáp mạng hay dây tín hiệu điều khiển, tránh bị va quẹt, dính nước mưa, bụi bặm trong nhà xưởng hoặc bị chuột bọ gặm nhấm làm hỏng dây.

Hàng này bên tự dập chấn bằng máy CNC, đột lỗ phụ kiện chuẩn chỉnh tại xưởng theo đúng kích thước từng công trình yêu cầu chứ không qua trung gian. Tùy chỗ lắp đặt trong nhà hay ngoài trời mà các bác có thể chọn loại tôn mạ kẽm thông dụng, sơn tĩnh điện theo màu, mạ kẽm nhúng nóng chống gỉ sét hoặc dòng inox 304, 316 cao cấp để sau này nghiệm thu M&E cho dễ.
Để anh em bóc tách khối lượng (BOQ) khớp với bản vẽ thiết kế, xưởng bên em dập sẳn theo các kích thước phổ thông trên công trình:

Chọn máng cáp thực ra cứ nhìn vào ba thức: Đặt ở đâu, môi trường có nhanh rỉ sét không, và túi tiền đến đâu. Thường trên thị trường sẽ gặp 4 loại này:

Phổ biến nhất ở các công trình văn phòng, tầm hầm chung cư hay phòng kỹ thuật trong nhà là máng cáp sơn tĩnh điện. Loại này làm từ tôn cán nguội đem xử lý bề mặt rồi phun sơn, sấy nhiệt lên. Ưu điểm dễ thấy là bảng màu đa dạng, từ ghi sáng, cam, xanh đến trắng xứ, nhìn thẩm mỹ và sạch sẽ. Nhưng điieemr mấu chốt là chỉ chơi được ở chỗ khô ráo thôi, ra ngoài mưa gió ẩm ướt là nhanh xuống cấp lắm.
Nếu phải kéo dây ngoài trời, gần biển hơi muối nhiều, trạm biến áp hay nhà máy hóa chất thì bắt buộc phải chuyên sang máng cáp mạ kẽm nhúng nóng. Gia công xong xuôi người ta mới thả cả cái máng vào bể kẽm nóng chảy tầm 450 độ C. Lớp kẽm ăn sâu bám chặt vào thép nên chịu ăn mòn cực kỳ trâu bò, nắng mưa sương gió thoải mái. Trông bề mặt nó hơi xù xì, gồ ghề chứ không mướt mắt như sơn tĩnh điện, bù lại độ bền thì miễn bàn.
Muốn phương án kinh tế hơn, làm nhanh mà vẫn cần lớp mạ bảo vệ thì có tôn tráng kẽm (Pre-galvanized) hoặc tôn ZAM. Khác với loại nhúng nóng, loại này dập trực tiếp từ cuộn tôn đã mạ kẽm sẳn từ nhà máy. Chỗ cắt hay mối hàn thì thợ sẽ quét dặm thêm lớp sơn giàu kẽm lên để đỡ rỉ. Loại này giá mềm, làm nhanh, cực kỳ hợp cho hệ thống cơ điện trong các nhà xưởng thông thường không có hóa chất độc hại hay độ ẩm quá cao.
Đắt nhất và "xịn" nhất là máng Inox (304 hoặc 316). Bản chất nó là thép không gỉ nguyên khối rồi nên khỏi cần sơn phết hay mạ mọt gì nữa, cứ thế dùng 20-30 năm không lo hỏng. Cơ mà chi phí cao vọt, nên chỉ những chỗ yêu cầu cực kỳ khắt khe về độ sạch lẫn chống ăn mòn như nhà máy dược, xưởng chế biến thực phẩm, phòng sạch hay nhà máy hóa chất đặc thù mới dám đầu tư.
Muốn đi một đường hệ thống máng cáp ngon lành từ đầu đến cuối thì không thể chỉ có mỗi mấy cây máng thẳng được. Mấy món phụ kiện đi kèm này mới là thứ giúp ôm cua, đổi hướng với chia nhánh sao cho dây điện chạy mượt mà, không bị cấn:
Đầu tiên và dùng nhiều nhất chắc chắc là nối máng. Cứ hết một cây máng tầm 2 mét rưỡi hay 3 mét là phải dùng nó bắt bu-lông kẹp chặt hai đầu lại, giữ cho toàn tuyến thẳng thớm và cứng cáp.
Đến mấy đoạn cần bẻ cua thì tùy góc mà chọn:
Còn khi tuyến dây cần đổi cao độ - kiểu đang chạy sát trần mà phải lượn xuống né dầm bê tông, ống gió, hoặc hạ dần vào tủ điện - thì thợ sẽ dùng co lên hoặc co xuống.
Cuối cùng là giảm máng (thu máng). Càng đi về cuối nguồn thì dây rẻ nhánh bớt đi rồi, không cần máng to nữa cho tốn diện tích với tốn tiền, người ta lắp co giảm này để thu hẹp máng lại cho gọn, hoặc khi cần mở rộng cỡ máng cũng dùng nó luôn.

Lúc bóc tách khối lượng để làm dự toán hay tính tải trọng ty treo máng đỡ, anh em thợ hoặc kỹ thuật thường tính nhẩm nhanh trọng lượng 1 mét máng đáy kín theo kiểu trải phẳng phôi tôn ra.
Hiểu đơn giản thế này: Cái máng chữ U bản chất là một tấm tôn phẳng gập lại, gồm đáy, hai bên thành và hai cái mép gờ gập vào để cái nắp. Anh em cứ cộng hết kích thước phôi lại rồi nhân diện tích với độ dày và khối lượng riêng của thép (7.85) là ra số ký:
Trọng lượng 1 mét (kg) = [(Chiều rộng +2 lần chiều cao + 2 lần mép gờ) x Độ dày tôn x 7.85] / 1000
(Kích thước rộng, cao, gờ, dày ở đây đều tính bằng milimet (mm) cho tiện đo đạc)
Giá máng cáp công nghiệp hiếm khi nào có một con số cố định nằm yên một chỗ. Anh em đi hỏi giá hôm nay có thể tuần sau đã khcas, chủ yếu do mấy cái này quyết định:
Thứ nhất là giá tôn phôi. Thép tấm, tôn cuộn cán nóng hay cán nguội trên thị trường nhảy múa theo ngày. Đợt nào giá sắt nguyên liệu leo thang là các xưởng buộc phải đội giá máng lên ngay, không giữ giá cũ được lâu đâu.
Thứ hai, dễ thấy nhất là kích thước với độ dày tôn. Máng càng rộng, thành càng cao thì tốn phôi. Chưa kể độ dày tôn nữa, làm máng dày 1.2 ly nó khác hẳn so với loại loại 1.5 ly hay 2.0 ly. Tôn càng dày thì cây máng càng nặng ký, mà xưởng tính tiền thì quy hết ra số ký thép tiêu hao thôi.
Thứ ba nằm ở bước xử lý bề mặt. Cùng một kích thước máng nhưng đem đi sơn tĩnh điện giá sẽ mềm hơn nhiều so với đem đi mạ kẽm nhúng nóng. Nhúng nóng quy trình phức tạp hơn, tiêu chuẩn ngâm bể kẽm dày cộp tốn kém nên tính đơn giá trên từng ký lúc nào cũng chát hơn hẵn.
Cuối cùng là số lượng đặt hàng nhiều hay ít. Ôm cả dự án lớn, xưởng họ nhập phôi cuộn về cắt xả một loạt, máy dập chạy liên tục không phải đổi khuôn nhiều thì chi phí gia công rẻ hơn hẳn, chiết khấu cũng thoáng tay hơn. Chứ đặt lắt nhắt vài chục mét thì tiền công căn chỉnh máy với công thợ gánh vào, giá chắc chắn phải cao.

Đây là một trong những câu hỏi lúc ra công trường ngồi bóc tách dự án anh em kỹ thuật với thợ hay hỏi nhau nhất. Dưới đây là những câu trả lời của Steelvina chỉ mang tính xây dựng, nếu anh em nào có câu trả lời hay hoặc muốn bổ sung ý thì hãy bình luận dưới bài viết nhé !
Máng cáp với thang cáp khác nhau chỗ nào mà phải chia ra ?
Trả lời: Nhìn qua là thấy ngay. Máng cáp làm theo kiểu dạng hộp, đáy kín mít hoặc đột vài lỗ nhỏ, tác dụng chính là che chắn bụi bặm, chuột bọ và bảo vệ mấy đường dây tín hiệu, dây điều khiển nhạy cảm. Còn thang cáp thì y chang cái thang leo tường, có hai thanh biên với các bậc ngang hàn cách đều. Cấu tạo hở toang hoác như vậy nên nó cực kỳ thoáng, dây chạy dòng lớn tỏa nhiều bao nhiêu cũng thoát ra ngoài hết, không sợ om nhiệt. Thang cáp cũng chịu lực tốt hơn nhiều, chuyên dùng để kéo mấy bó cáp động lực to đùng đi trục đứng riser tòa nhà hoặc dưới tầng hầm kỹ thuật.
Khi nào thì nên dùng máng cáp đục lỗ thay vì máng kín ?
Máng kín thì chắn bụi tốt thật nhưng nếu dây chạy liên tục, tải nặng thì bên trong rất bí và nóng. Chuyển sang máng đục lỗ đáy (cable tray) là giải pháp dung hòa: nhiệt vẫn thoát ra được, nếu có lỡ đọng nước hay hơi ẩm thì cũng tự róc qua lỗ chứ không đọng thành vũng làm mục vỏ cáp. Thêm cái tiện nữa là lúc rải dây, anh em muốn ghim cố định bó cáp cứ luồn dây thít nhựa trực tiếp qua mấy cái lỗ đáy đó là siết ngon lành, khổi cần phụ kiện kẹp rườm rà.
Treo máng lên trần thì để độ võng bao nhiêu là an toàn?
Theo chuẩn kỹ thuật NEMA VE1, anh em thường bắt ty treo hoặc giá đỡ cách nhau tầm 1,5 mét đến 2 mét một điểm. Khi đã rải đầy cáp lên rồi, máng chắc chắn sẽ hơi xệ xuống một chút do nặng, nhưng độ võng ở giữa hai điểm đỡ không được quá tỷ lệ 1/200 khoảng cách treo. Ví dụ hai thanh ty treo cách nhau 2 mét (Tức 20000mm), võng tối đa chỉ được phép trong khoảng 10mm đổ lại thôi. Võng sâu quá nhìn vừa xấu vừa tức mắt, lại tiềm ẩn nguy cơ giật lỏng nở đạn hoặc sập trần treo cực kỳ nguy hiểm.